Bệnh dại

BỆNH DẠI

Bs Nguyễn Viết Thịnh

1.     Đại cương

Bệnh dại là bệnh viêm não tuỷ cấp tính xảy ra ở động vật có vú, tác nhân gây bệnh là virus dại trong họ Rhabdoviridae. Ở Việt nam virus dại lưu hành chủ yếu ở chó nhà, hiếm thấy hơn ở mèo. Virus xuất hiện trong nước dãi của chó hoặc mèo khoảng từ 3-5 ngày trước khi con vật có triệu chứng lâm sàng đầu tiên và trong suốt thời gian bị bệnh.

Virus dại xâm nhập vào cơ thể từ động vật bị dại qua vết cắn, vết xước, vết liếm trên lớp da, niêm mạc bị thương, sau khi xâm nhập nó tồn tại và nhân lên tại vết thương từ vài giờ cho tới vài tuần. Sau đó nhanh chóng đi tới các đầu mút thần kinh cảm giác và vận động của hệ thần kinh ngoại biên rồi chuyển tới cơ quan thần kinh trung ương.

Sau khi người bị con vật nhiễm virus dại cắn sẽ trãi qua thời gian ủ bệnh từ 2-8 tuần, cũng có thể ngắn khoảng 10 ngày hoặc dài 1 năm hoặc lâu hơn. Thời gian ủ bệnh dài hay ngắn phụ thuộc vào tình trạng vết cắn gần thần kinh trung ương hoặc số virus xâm nhập vào cơ thể qua vết cắn

Theo ước tính của TCYTTG hàng năm có khoảng 60.000-70.000 người chết vì bệnh dại, trong đó hơn 90% số ca tử vong được thông báo từ các nước đang phát triễn ở châu Á, châu phi và vùng Nam Mỹ.

Tại Việt nam, bệnh Dại vẫn là một vấn đề y tế quan trọng gây ảnh hưởng lớn về kinh tế và sức khoẻ con người. Trước năm 1996, trung bình mỗi năm có 300.000-400.000 người bị súc vật cắn phải tiêm phòng vacccine dại, và có trên 500 người chết do lên cơn dại.

Nguyên nhân chính gây tử vong là do số chó bị nhiễm virus dại ở nước ta rất lớn, Cả nước có khoảng 6-8 triệu con chó và phần lớn số chó này không được quản lý và tiêm phòng đầy đủ.

Mặt khác do sự hiểu biết của người dân còn hạn chế nên Người bị chó cắn chưa biết xử lý vết thương, không đi tiêm vaccine, đi tiêm muộn, tiêm không đủ liều hoặc chỉ chữa trị bằng thuốc đông y.

Khi xâm nhập và nhân lên trong tế bào thần kinh, virus dại gây tổn thương não tuỷ ở các mức độ nặng nhẹ mà biểu hiện lâm sàng sẽ khác nhau.

2.     Triệu chứng tiền lâm sàng:

Từ 2-4 ngày trước khi phát hiện, bệnh nhân thấy đau nhức,sưng tấy tại vết cắn có thể quan sát được. Những dấu hiệu này lan rộng dọc theo hệ thống thần kinh và hệ thống bạch huyết. Đồng thời với các triệu chứng trên còn có một số triệu chứng khác kèm theo: bồn chồn, thổn thức, la hét, chán nản vô cớ.

3.     Triệu chứng lâm sàng:

Có 3 thể lâm sàng:

a.     Thể co thắt

Đây là thể thường gặp nhất. Đặc biệt là co cứng, co thắt, co, co giật, run các cơ kể cả cơ ở mặt.

Triệu chứng đặc trưng của bệnh nhân lên cơn dại.

v     Sợ nước: bệnh nhân thường rất khát nhưng khi uống nước họ bị co thắt lồng ngực, bị ức chế thở và run cầm cập. Trạng thái này qua mau nhưng để lại ấn tượng kéo dài cho bệnh nhân, vì vậy họ không thiết uống nước mặc dù rất khát. Từ đó dẫn đến chỉ cần nhìn thấy 1 ly nước hoặc nghe tiếng nước chảy cũng sợ.

v     Sợ gió, sợ ánh sáng được mô tả tương tự. Tính cách bệnh nhân không bình thường, bệnh nhân bị phấn khích quá độ khi bị kích thích. Không phát hiện dấu hiệu mất tri thức.

Những cơn co thắt đầu tiên còn xa nhau, càng ngày càng mau và thường tử vong sau 3-4 ngày do ngất hoặc ngạt trong một cơn co thắt sợ nước hoặc sau một cơn hôn mê.

b.     Thể liệt:

Thể này hiếm hơn, kém điển hình hơn. Dấu hiệu phấn khích quá độ không có. Bệnh xuất hiện rất nhanh sau giai đoạn co thắt, run. Liệt có thể tiên phát và bắt đầu bằng liệt 1 chi hoặc 2 chi dưới rồi lan lên trên hoặc xuống dưới. Tử vong thường do ngạt hoặc ngất vào ngày thứ 4. Diễn biến bệnh không quá 4-10 ngày.

c.     Thể cuồng:

Bệnh nhân bị kích thích quá độ, có những phản ứng dữ tợn, người bệnh trở nên hung bạo. Vì vậy bệnh nhân thường có những  hành vi không bình thường như chống lại y bác sĩ và những người quanh mình. Thể trạng suy sụp nhanh, hôn mê, ngất và chết.

4.     Điều trị

Hiện chưa có thuốc đặc hiệu chữa bệnh dại khi đã lên cơn Dại.

Do đó Việc xữ lý vết thương tại chổ kết hợp với tiêm kháng huyết thanh và Vaccine dại là cách duy nhất cấp cứu có hiệu quả cho người bị súc vật nghi dại cắn.

5.     Biện pháp xử lý Người sau khi bị súc vật cắn

a.     Tại chỗ:

v     Rửa ngay thật kỹ vết cắn bằng nước xà phòng đặc và nhiều nước, sau đó rửa bằng nước muối, bôi các chất sát khuẩn như: cồn, cồn iốt đậm đặc hay bétadine, nhằm làm giảm tới mức tối thiểu lượng virus tại nơi xâm nhập.

v     Trong trường hợp cần thiết phải cắt lọc, nhưng không khâu ngay (đề phòng virus tản phát), chỉ khâu trong trường hợp vết cắn đã quá 5 ngày.

b.     Toàn thân:

Tình trạng vết cắn Tình trạng súc vật(kể cả súc vật đã được tiêm phòng) Điều trị
Tại thời điểm cắn Trong vòng 10 ngày
Da lành – Không điều trị
Da bị xước ở gần thần kinh trung ương Bình thường – Tiêm vaccine ngay và thôi tiêm tiêm nếu ngày thứ 10 súc vật cắn vẫn sống bình thường
Có triệu chứng dại – Tiêm vaccine và huyết thanh kháng dại
Da bị xước Bình thường Ốm, có xuất hiệntriệu chứng dại – Theo dõi súc vật- Tiêm vaccine ngay khi súc vật có triệu chứng dại hoặc không theo dõi được súc vật.
Cắn nhẹ, xa thần kinh trung ương Không theo dõiđược con vật – Tiêm vaccine ngay.
Có triệu chứng dại – Tiêm vaccine và huyết thanh kháng dại
Ø  Vết cắn gần thần kinh trung ương.Ø  Vết cắn sâu.Ø  Có nhiều vết cắn.

Ø  Vết cắn ở vùng cơ nhiều thần kinh như: đầu mặt cổ, đầu chi, bộ phận sinh dục.

ü     Bình thườngü     Không theo dõiđược con vật ü     Vẫn sống bìnhthường – Tiêm vaccine và huyết thanh kháng dại.

6.     Theo dõi con vật

a.      Chó vẫn sống hay bề ngoài vẫn khoẻ mạnh:

Cần phải tiến hành việc theo dõi và không được giết chó trong bất kỳ trường hợp nào. Nếu chó trong thời gian ủ bệnh các triệu chứng sẽ xuất hiện thường là khoảng 2 ngày sau nhưng có thể lâu hơn.

b.      Chó bị bệnh:

Dựa vào những triệu chứng lâm sàng để kết luận. Đới với thể bại liệt, con vật thường bị bại liệt phẩn thân sau hay bại hàm. Còn đối với thể dại điên cuồng, con vật có những cơn hung dữ, chảy nhiều nước bọt và tiếng sủa khàn. Con vật sẽ chết 2-3 ngày sau đó.

c.       Chó đã chết:

–     Lấy mẫu là những phần ở não để tiến hành xét nghiệm.

–    Hiện nay có 3 phương pháp thông dụng nhất để chẩn đoán xét nghiệm bệnh dại, đó là phương pháp miễn dịch huỳnh quang, phương pháp tiêm truyền trên động vật thí nghiệm và phương pháp giải phẩu bệnh.

7.     Biện pháp phòng chống bệnh dại

a.      Khi chưa có dịch:

–       Phải hạn chế nuôi chó. Nuôi chó phải nhốt, xích. Chó ra đường phải cò rọ mõm. Phải diệt chó chạy rông và vô chủ.

–       Tiêm phòng dại chó, mèo.

b.      Khi  có dịch xảy ra:

–       Tại xã, phường thấy xuất hiện chó dại thì phải diệt hết chó dại và số chó tiếp xúc với chó dại.

–       Tiêm vaccine phòng dại cho đàn chó.

–       Nghiêm cấm bán chạy chó ở nơi đang có bệnh dại sang nơi khác để ngăn chặn sự lây lan dịch sang các vùng xung quanh.

–       Những người có tiếp xúc với chó, mèo dại, những người bị chó mèo dại cắn phải đi tiêm phòng dại ngay, càng sớm càng tốt.

Để đạt được mục tiêu khống chế và tiến tới loại trừ các trường hợp bị dại, đến năm 2020 thanh toán cơ bản bệnh dại ở Việt Nam, cần phải nâng cao chất lượng phòng chống bệnh dại, phải có sự quan tâm đầu tư đúng mức của nhà nước, đồng thời phải xã hội hoá công tác phòng chống bệnh dại.

http://www.pasteur-hcm.org.vn/dichvu/rabies.htm

Tiêm ngừa dại  (các loại vaccine, thời gian, giá thành…) : http://tuoitre.vn/Chinh-tri-xa-hoi/Song-khoe/207335/Tiem-phong-dai-the-nao-de-an-toan.html

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: